IELTS 6.0 PLUS
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN

Hệ thống giáo dục Đức

Để hiểu rõ được nền giáo dục của Đức, trước hết ta cần biết rằng Đức là một quốc gia có hệ thống chính phủ liên bang. Điều đó đồng nghĩa với việc các quốc gia thành viên có quyền tự chủ trong chính sách giáo dục — một cấu trúc không khác mấy so với hệ thống liên bang của Hoa Kỳ. 

Bộ Giáo dục & Nghiên cứu Liên bang Đức tại Berlin (BMBF) đóng vai trò quan trọng trong nhiều phương diện, chẳng hạn như: gây quỹ, hỗ trợ tài chính, đặt ra những quy định về việc dạy nghề cũng như yêu cầu đầu vào của các ngành nghề. Nhưng hầu hết những khía cạnh còn lại của giáo dục đều thuộc thẩm quyền của bộ giáo dục mỗi bang. Cũng vì thế mà có thể có sự khác biệt đáng kể trong việc giáo dục giữa các bang về thời gian học, chương trình giảng dạy, các loại trường học, … Do đó, Hội nghị thường trực của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Văn hóa với vai trò là một là một bộ phần điều phối, đã phần nào làm hài hòa chính sách giáo dục giữa các bang.

Hệ thống giáo dục ở Đức có cơ cấu như thế nào?

Cơ cấu hệ thống giáo dục ở Đức nhìn chung khá đơn giản. Tuy nhiên, đến bậc trung học lại có sự phân hóa thành nhiều loại trường với tính chất đào tạo khác nhau cùng nhiều loại bằng cấp tương ứng dễ gây khó hiểu.

Cơ cấu hệ thống giáo dục ở Đức

Cụ thể gồm:

Mẫu giáo

Tuy đến năm 6 tuổi trẻ em ở Đức mới bắt buộc phải đi học, nhưng hầu hết trẻ em (từ 3-5 tuổi) đều được đưa đến trường mẫu giáo. Đây được coi là một khâu chuẩn bị quan trọng cho các em để có thể sẵn sàng bước chân vào trường tiểu học.

Tiểu học - Grundschule (Lớp 1 - Lớp 4 hoặc Lớp 1 - Lớp 6 tại Berlin và Brandenburg)

Trẻ được học chương trình tiểu học tại Grundschule (trường tiểu học) từ khi 6 tuổi, thường sẽ kéo dài trong 4 năm, hoặc 6 năm ở Berlin và Brandenburg. Phần lớn các em được học các môn giống nhau, tuy nhiên vẫn có một số khác biệt giữa các chương trình giảng dạy của tiểu bang, chương trình học thường sẽ bao gồm tiếng Đức, toán học, nghiên cứu xã hội, giáo dục thể chất, công nghệ, âm nhạc và tôn giáo/đạo đức. Tất cả học sinh ở lớp 3 cũng sẽ bắt đầu học ngoại ngữ (thường là tiếng Anh, tiếng Pháp), mặc dù ở vài tiểu bang, các em đã bắt đầu học từ lớp 1. 

Khi bước vào cấp trung học, học sinh sẽ được phân làm ba nhánh khác nhau, được theo học ở các trường với tính chất và cách dạy khác nhau phù hợp với các em để học lên cao hơn (cả đại học lẫn dạy nghề). Do đó, đến năm lớp 4 (hoặc lớp 6), các em sẽ được tư vấn và chọn trường tùy thuộc vào năng lực và mong muốn của gia đình. Tuy nhiên, về sau học sinh vẫn có thể chuyển sang nhánh khác.

Trung học

Hệ thống trường trung học công lập ở Đức rất phức tạp. Có bốn chương trình chính, được dạy tại các loại trường khác nhau: Hauptschule , Realschule và Gymnasium và Gesamtschule.

  • Hauptschule: chỉ giảng dạy các chương trình trung học cơ bản, thường kéo dài năm năm (lớp 5-9). Học sinh sau khi học Hauptschule có thể chuyển trực tiếp vào học và hoàn thành chương trình Realschule sau một năm. Nếu muốn học lên cao hơn cần phải làm bài kiểm tra đầu vào. 
  • Hauptschule - Secondary General School (Lớp 5 - Lớp 9) hoặc (Lớp 5 - Lớp 10): học sinh sẽ học các môn như ở Realschule hoặc Gymnasium nhưng với tốc độ chậm hơn và kết hợp với các học định hướng học nghề, phần lớn học sinh sẽ tham gia làm việc part-time ở vị trí học việc. Hauptschule là lựa chọn kém phổ biến nhất tại Đức. Sau khi hoàn thành bài thi cuối khóa (cuối lớp 9 hoặc 10), phần lớn học sinh sẽ chuyển đến học tại Berufsschule - một loại trường dạy nghề trong 2 năm hoặc ghi danh vào các trường Cao đẳng nghề Fachhochschule, rồi chuyển tiếp lên các trường Đại học Khoa học Ứng dụng, cũng gọi là Fachhochschule.
  • Realschule: đòi hỏi cao hơn về mặt học thuật và mất thêm một năm để hoàn thành (lớp 10). 
  • Realschule - Secondary School (Lớp 5 - Lớp 10): yêu cầu cao hơn về mặt học thuật. Sau khi tốt nghiệp, học sinh có thể chọn học theo chương trình đào tạo nghề Berufsschule hoặc ghi danh vào các trường Cao đẳng nghề Fachhochschule, rồi chuyển tiếp lên các trường Đại học Khoa học Ứng dụng, cũng gọi là Fachhochschule.
  • Gymnasium: kéo dài từ lớp 5 đến lớp 12 (hoặc 13 ở một số bang), Gymnasium dạy chương trình trung học nâng cao ở Đức. Ở tuổi 18 hoặc 19, học sinh phải tham gia một kỳ thi để có thể học lên đại học. 

Ngoài ra, còn có nhiều loại trường dạy nghề khác cho học sinh từ lớp 10-13 với nhiều loại hình giáo dục khác nhau. 

Dù học sinh có học trường nào cũng phải hoàn thành 9 năm học phổ thông. Nếu bạn du học Đức, bạn cũng phải tuân thủ quy chế này. Bên cạnh đó, học sinh cũng buộc phải học ít nhất một ngoại ngữ trong vòng 5 năm. Biết 1 ngoại ngữ là điều bắt buộc khi học Gymnasium.

  • Gymnasium - Academic Secondary School (Lớp 5 - Lớp 12 hoặc Lớp 13): chương trình chuyên về lý thuyết nâng cao, phù hợp cho học sinh có mong muốn vào các trường Đại học Universität. Chương trình Gymnasium cũng yêu cầu học sinh biết thêm tối thiểu 1 ngoại ngữ. Sau khi tốt nghiệp Gymnasium, học sinh sẽ nhận được bằng tú tài (Abitur) và có thể học lên học Đại học Universität hoặc Đại học ứng dụng Fachhochschule.
  • Gesamtschule - Comprehensive School (Lớp 5 - Lớp 12 hoặc Lớp 13): đây là dạng trường tổng hợp, có cả 3 dạng Hauptschule, Realschule và Gymnasium. Gesamtschule có thể tổ chức chương trình tiền đại học cho học sinh ưu tú, chương trình phổ thông cho học sinh trung bình và chương trình đơn giản cho học sinh ít có khả năng hơn.

Ngoài ra, hệ thống các trường trung học tư thục ở Đức chia làm 2 loại:

  • Alternative schools “Ersatzschulen”. Providing equal lessons and courses as public secondary schools.
  • Complementary schools “Ergänzungsschulen”. Teaching additional courses, despite those that are also offered in the public secondary schools.

Dù học sinh có học trường nào cũng bắt buộc phải hoàn thành 9 năm học phổ thông. Nếu bạn du học Đức, bạn cũng phải tuân thủ quy chế này.

Trường nghề (2-3 năm): không thuộc hệ thống giáo dục công lập nhưng lại được đầu tư và bảo trợ bởi chính phủ liên bang. Nó cho phép các học sinh khi tham gia đào tạo nghề được học tại một công ty cũng như tại một trường thương mại quốc lập. Mô hình này được đánh giá cao và được mô phỏng trên khắp thế giới, cụ thể: Một số công ty du học nghề miễn phí có chương trình này như ngành Điều Dưỡng, Nhà Hàng Khách Sạn. Một số trường nghề còn cung cấp chương trình Pathway, giúp học sinh có thêm chứng chỉ “Zeugnis der Fachhoch Hochschulreife” (University of Applied Sciences Maturity Certificate) để nộp vào trường Đại học Khoa Học Ứng Dụng hay một trường Đại học Tổng Hợp nhỏ trong bang. 

Có 2 loại trường nghề thường thấy là Dual System Vocational Schools - Berufsschule và Vocational Schools - Berufsfachschule and Fachoberschulen. Sự khác nhau rõ nét nhất của 2 chương trình này là đầu vào  của Berufsschule nhận các bằng tốt nghiệp từ chương trình Realschule và Gymnasium; trong khi Berufsfachschule and Fachoberschulen nhận bằng tốt nghiệp từ chương trình Realschule và Hauptschule.

Đại học và sau Đại học: 

Đại học (3-4 năm): Đức có 2 dạng trường Đại học là Trường đại học (Universität) và Trường Đại học Khoa học Ứng dụng (Fachhochschule - FHs), trong đó:

Trường đại học (Universität): hầu hết là các tổ chức dạy học đầy đủ và đa dạng các ngành học, từ bằng cử nhân đến tiến sĩ. 

Trường Đại học Khoa học Ứng dụng (Fachhochschule - FHs): là loại trường đại học thực hiện giảng dạy các kiến ​​thức thiên về định hướng ứng dụng và thực tiễn hơn so với trường đại học thông thường, chẳng hạn như kỹ thuật, kinh doanh hoặc khoa học máy tính,...

Ngoài ra, ở Đức, sinh viên có thể lựa chọn chương trình tiếng Anh hoặc tiếng Đức.

  • Chương trình giảng dạy bằng Tiếng Đức: Điều kiện chung cho bậc đại học là kỳ thi Abitur (tương tự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông ở Việt Nam) bao gồm hai phần nói và viết. Sau khi vượt qua kỳ thi, học sinh sẽ nhận bằng “Zeugnis der allgemeinen Hochschulreife” (certificate of general university maturity) để được xét vào trường Đại học nhưng học sinh phải thực sự quyết định nhanh chóng về việc nộp bảng điểm tốt nghiệp vào trường Đại học mình mong muốn vì số lượng có hạn. Một ưu điểm nổi bật của chương trình giảng dạy bằng tiếng Đức là sinh viên quốc tế được học miễn phí hoặc chi trả mức học phí vô cùng hợp lý.
  • Chương trình giảng dạy bằng Tiếng Anh: Tại Đức có nhiều Trường Đại học tổ chức các chương trình Quốc tế dạy bằng tiếng Anh. Những Chương trình này không chỉ được đại đa số sinh viên quốc tế lựa chọn mà còn các sinh viên Đức, những người mong muốn được sử dụng thành thạo tiếng Anh và hoàn thiện cũng như nâng cao kỹ năng giao tiếp Quốc tế. Những trường đào tạo dạng chương trình này có quyền và chịu trách nhiệm trực tiếp về việc tuyển sinh. Thí sinh được tuyển chọn dựa trên tiêu chí về kết quả học tập. Điều kiện tiên quyết về ngoại ngữ cho đa phần chương trình loại này là tiếng Anh với Chứng chỉ TOEFL 550 hoặc IELTS 6.5 hoặc tương đương.

Thạc sĩ (1-2 năm): 

Tiến sĩ: thông thường không có thời gian tiêu chuẩn để lấy bằng Tiến sĩ (Doktorgrad). Chương trình tiến sĩ bao gồm:

  • Nghiên cứu độc lập
  • Bảo vệ luận án tiến sĩ